Tin tức
-
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ vừa nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ xây dựng quy định về chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ”. Đây là đề tài nghiên cứu quan trọng góp phần xây dựng hệ thống văn bản pháp lý đủ mạnh quản lý hoạt động chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc bản đồ còn rất mới mẻ tại Việt Nam. Theo TS. Đồng Thị Bích Phương, Chủ nhiệm đề tài, đề tài đã khảo sát, đánh giá các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển và các nước có điều kiện tương tự Việt Nam về chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc bản đồ và thông tin địa lý; phân tích, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ; khảo sát thực tế chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ và điều tra nhu cầu người dùng. Sau khi triển khai nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã xác định các giải pháp tổ chức, tài chính, kỹ thuật và sở hữu trí tuệ để đảm bảo chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đồng thời, xây dựng Dự thảo quy định về chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ. Theo đó, các giải pháp mà nhóm nghiên cứu đưa ra quản lý hoạt động chia sẻ dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ phù hợp với điều kiện hiện tại, đó là: Xây dựng Hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia bao gồm chính sách, thể chế, tiêu chuẩn, công nghệ, dữ liệu và nguồn lực để đảm bảo chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu không gian địa lý nói chung và dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ nói riêng. Bên cạnh đó, Nhà nước đầu tư cho thu nhận, cập nhật, quản lý, cung cấp, chia sẻ dữ liệu, sản phẩm đo đạc cơ bản và chuyên ngành trên nguyên tắc hiệu quả, tránh lãng phí, đủ đáp ứng các nhu cầu phát triển. Đặc biệt, thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ phải được thu nhận, cập nhật, cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời; được quản lý đảm bảo sử dụng lâu dài và khai thác, chia sẻ thuận tiện. Viện trưởng Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ Nguyễn Phi Sơn đánh giá: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở phục vụ xây dựng Nghị định và các quy định về chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ khoa học, phù hợp với thực tế để đáp ứng các yêu cầu quản lý Nhà nước, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động đo đạc và bản đồ. Theo ông Nguyễn Phi Sơn, hoạt động đo đạc và bản đồ đang được thực hiện ở rất nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau như: quy hoạch lãnh thổ, giao thông, xây dựng, thủy lợi, công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý đất đai, giáo dục đào tạo, địa chất, bảo vệ môi trường, du lịch, truyền thông, an ninh quốc phòng... Vì vậy, các quy định về chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ khoa học, phù hợp với thực tế để đáp ứng các yêu cầu quản lý Nhà nước sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động đo đạc và bản đồ của các ngành, các lĩnh vực liên quan góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu an ninh quốc phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
-
Theo Báo cáo tiến độ 5 năm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, dự kiến đến năm 2030, Việt Nam có khả năng sẽ đạt được cả 3 mục tiêu cụ thể thuộc mục tiêu phát triển bền vững số 13 về các hành động bảo vệ khí hậu. Thực tế trong 5 năm qua, Việt Nam đã nỗ lực triển khai các hoạt động từ hoàn thiện thể chế chính sách đến tăng cường năng dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát khí hậu và các hoạt động cụ thể để thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với BĐKH. Việt Nam cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng vào năm 2016 và năm 2020, cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) vào năm 2020. Đến nay đã có 52/63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu; 7/18 Bộ và 37/63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương ban hành Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh. Bên cạnh nguồn lực trong nước, Việt Nam đã huy động được nhiều nguồn lực quốc tế cho các dự án, chương trình liên quan đến biến đổi khí hậu. Trong đó, giai đoạn 2017-2019 đã huy động được 146,5 triệu đô la Mỹ từ Quỹ Khí hậu xanh (GCF). Việt Nam đã tổ chức phổ biến Luật Phòng chống thiên tai và các văn bản dưới luật cho 44 lớp với 1320 cán bộ cấp xã được tập huấn. Mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn được chú ý đầu tư gồm 187 trạm khí tượng bề mặt - 242 trạm thủy văn - 20 trạm hải văn - 10 trạm radar thời tiết - 6 trạm thám không vô tuyến - 8 trạm pilot - 782 trạm đo mưa độc lập. Tuy nhiên, trước diễn biến và tác động của biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, đòi hỏi các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục tập trung rà soát, hoàn thiện các văn bản chính sách pháp luật liên quan đến BĐKH đảm bảo phù hợp với yêu cầu thực tiễn về công tác ứng phó với BĐKH. Bên cạnh đó để giám sát khí hậu, cần đầu tư hệ thống quan trắc, hệ thống dự báo khí tượng thủy văn đáp ứng được nhu cầu dự báo, đặc biệt là công nghệ dự báo cực ngắn và dự báo biển. Huy động nguồn lực xã hội để đầu tư cho các hệ thống trên. Hai hoạt động cần thực hiện thường xuyên, liên tục để duy trì các kết quả là tăng cường nâng cao nhận thức về ứng phó với BĐKH cho các cấp, các ngành và người dân, đặc biệt cần chú trọng công tác này hơn nữa tại địa phương; Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm huy động nguồn tài trợ và tăng cường sự phối hợp thực hiện Kế hoạch triển khai Thỏa thuận Paris, các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ về khí tượng thủy văn và BĐKH.
-
(Thanhuytphcm.vn) - UBND TPHCM vừa ban hành quyết định chuyển đổi số ngành tài nguyên và môi trường TPHCM đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, TPHCM phấn đấu đến năm 2030, phát triển Chính phủ số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động. Trong đó, 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau gồm thiết bị di động, 100% hồ sơ công việc ở cấp TP được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước). Hình thành đầy đủ nền tảng dữ liệu của đô thị thông minh phục vụ phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, dữ liệu được chia sẻ rộng khắp trong toàn xã hội, giảm 40% thủ tục hành chính. Đồng thời, tăng 40% dịch vụ sáng tạo dựa trên dữ liệu phục vụ người dân và doanh nghiệp. Mặt khác, hoàn thiện cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường trên không gian mạng, liên tục cập nhật với sự tham gia, đóng góp của tổ chức, cá nhân, cộng đồng. Bảo đảm cung cấp, chia sẻ dữ liệu cho thực hiện dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp, làm nền tảng phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, đô thị thông minh. 100% thiết bị trong điều tra, khảo sát, quan trắc, đo đạc trên công nghệ số, thu nhận trực tiếp dữ liệu số, trong đó 90% sử dụng công nghệ IoT. Bên cạnh đó, cơ bản công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, chuyên môn nghiệp vụ, giám sát, dự báo, cảnh báo về tài nguyên và môi trường hoàn toàn trên cơ sở phân tích, xử lý dữ liệu lớn bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo, theo thời gian thực, hỗ trợ ra quyết định chính xác, kịp thời. Để thực hiện các mục tiêu trên, TPHCM thực hiện một số giải pháp như chuyển đổi nhận thức; xây dựng cơ chế chính sách, cải cách hành chính; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và ứng dụng trí tuệ nhân tạo; đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh xã hội hóa trong chuyển đổi số tài nguyên và môi trường. Nguồn: Trang tin điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh https://www.hcmcpv.org.vn/
-
Sự phát triển không ngừng của ngành đo đạc và bản đồ trong thời gian qua có sự đóng góp không nhỏ của nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng mục tiêu cung cấp kịp thời, chính xác, đầy đủ và hiệu quả các sản phẩm của đo đạc bản đồ và thông tin địa lý phục vụ trực tiếp cho các lĩnh vực trong ngành tài nguyên và môi trường nói riêng và các bộ ngành,địa phương và xã hội nói chung. Công nghê đo đạc bản đồ của Việt Nam đang bắt kịp với xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về chuyển đổi số quốc gia, xây dựng chính phủ điện tử. Ở nước ta, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước đã sớm nhận thấy tầm quan trọng và những lợi ích to lớn từ dữ liệu không gian địa lý mang lại. Nhiều năm qua, các Bộ, ngành nói chung và ngành tài nguyên và môi trường nói riêng đã tập trung đầu tư xây dựng hệ thống dữ liệu không gian địa lý phục vụ nhu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Luật Đo đạc và bản đồ ngày 14 tháng 6 năm 2018, Nghị định số 27/2019/NĐ-CP ngày 13 tháng 3 năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đo đạc và bản đồ đã quy định nội dung và một số nhiệm vụ cơ bản về hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia, bao gồm: xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch triển khai thực hiện; chính sách, nguồn lực để xây dựng, phát triển; công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; xây dựng, tích hợp dữ liệu không gian địa lý; xây dựng, vận hành Cổng thông tin không gian địa lý Việt Nam. Ngày 23 tháng 11 năm 2021, Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ tổ chức Hội thảo khoa học và công nghệ toàn quốc “Nghiên cứu ứng dụng phát triển hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia, vai trò của công nghệ đo đạc bản đồ hiện đại.
-
Triển khai Quyết định số 2393/QĐ-UBND ngày 3/7/2020 của UBND TP Hồ Chí Minh về phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số của TP. Hồ Chí Minh và Quyết định số 392/QĐ-UBND ngày 3/2/2021 của UBND TP Hồ Chí Minh về phê duyệt Chương trình triển khai Đề án Xây dựng TPHCM trở thành đô thị thông minh đến năm 2025. Nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, điều hành và phục vụ người dân tốt hơn của Ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, sáng 17 tháng 3 năm 2022, Trung tâm Thông tin và Chương trình Giáo dục (TTTT&CGTD) thuộc Sở GD&ĐT TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Trung tâm Công nghệ Thông tin Tài nguyên môi trường Sở Tài nguyên và Môi trường Tp. Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội thảo giới thiệu và bàn giao tài khoản kết nối, chia sẻ dữ liệu tài nguyên môi trường nhằm chính thức triển khai Hệ thống thông tin địa lý giáo dục giai đoạn 2021 - 2025. Chủ trì hội thảo: Ông Nguyễn Bảo Quốc – Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Cùng các đại biểu: - Ông Bùi Hồng Sơn - Giám đốc Trung tâm CNTT Tài nguyên môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường - Ông Lê Duy Tân – Trưởng phòng GDTrH, Giám đốc TTTT&CTGD - Ông Nguyễn Hồng Tuấn – Phó Giám đốc TTTT&CTGD Qua Hội thảo Trung tâm CNTT Tài nguyên môi trường (TT CNTT TNMT) thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn Sở Giáo dục và Đào tạo (TTTT&CTGD) sử dụng nền tảng chia sẻ dữ liệu không gian địa lý tài nguyên và môi trường qua đó giúp Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng các ứng dụng quản lý, điều hành và phục vụ người dân trên nền tảng bản đồ thành phố Hồ Chí Minh do Sở Tài nguyên Môi trường triển khai theo Quyết định số 37/2018/QĐ-UBND ngày 09 tháng 10 năm 2018 của UBND thành phố Hồ Chí Minh. Phát biểu chỉ đạo tại hội thảo, ông Nguyễn Bảo Quốc đã các ơn sự hỗ trợ của Sở Tài nguyên và môi trường (TT CNTT TNMT) đã rất nhiệt tình hỗ trợ Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai một ứng dụng hiệu quả nhằm triển khai Chương trình chuyển đổi số lĩnh vực giáo dục. Ông Nguyễn Bảo Quốc cũng đánh giá cao tinh thần chủ động và làm việc nghiêm túc, hiệu quả giữa TTTT&CTGD với TT CNTT TNMT nhằm bước đầu xây dựng các ứng thiết thực trên nền tàng dữ liệu không gian địa lý thành phố Hồ Chí Minh. Ông mong muốn Sở TN&MT sẽ tiếp tục hỗ trợ để Sở GD&ĐT tiếp tục phát triển Hệ thống thông tin địa ký giáo dục thật sự là một nền tảng mang tính đột phá nhằm hiện thực hóa các nội dung, mục tiêu của Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục đào tạo. Kết thúc buổi hội thảo, Trung tâm Công nghệ Thông tin Tài nguyên môi trường đã ký kết biên bản chính thức bàn giao tài khoản thành viên tham gia hệ thống Trục tích hợp các dịch vụ Web ngành Tài nguyên và Môi trường cho Trung tâm Thông tin và Chương trình Giáo dục nhằm hỗ trợ Sở Giáo dục và Đào tạo phát triển Hệ thống thông tin địa lý giáo dục hiệu quả hơn trong giai đoan sắp tới. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử ngành GD&ĐT Thành phố Hồ Chí Minh https://hcm.edu.vn/
-
(Chinhphu.vn) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 47/2020/NĐ-CP quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước. Nghị định này quy định về các hoạt động quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước bao gồm: quản lý, quản trị dữ liệu số; kết nối, chia sẻ dữ liệu số; sử dụng, khai thác dữ liệu số của cơ quan nhà nước; cung cấp dữ liệu mở của cơ quan nhà nước cho tổ chức, cá nhân; quyền và trách nhiệm trong kết nối, chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước. Giá trị pháp lý của dữ liệu được chia sẻ trong thông điệp dữ liệu được xác định theo giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu quy định tại Mục 1 Chương II Luật Giao dịch điện tử và quy định của pháp luật có liên quan. Nguyên tắc chung về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu: Dữ liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan nhà nước được chia sẻ phục vụ các hoạt động của cơ quan nhà nước hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp tuân thủ quy định của pháp luật trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng dữ liệu. Cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm chia sẻ dữ liệu với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; không cung cấp thông tin qua hình thức văn bản đối với thông tin đã được khai thác qua hình thức kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin; không được thu thập, tổ chức thu thập lại dữ liệu hoặc yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp thông tin, dữ liệu trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính nếu dữ liệu này đã được cơ quan nhà nước khác cung cấp, sẵn sàng cung cấp thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu, trừ trường hợp dữ liệu đó không bảo đảm yêu cầu về chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên ngành hoặc pháp luật có quy định khác. Việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước không làm ảnh hưởng tới quyền lợi và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan, không được xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Dữ liệu chia sẻ phải bảo đảm tính cập nhật, chính xác theo quy định của pháp luật; dữ liệu chia sẻ giữa các cơ quan nhà nước là không thu phí, trừ trường hợp khai thác, sử dụng dữ liệu thuộc danh mục được quy định trong Luật Phí và lệ phí. Dữ liệu của cơ quan nhà nước chia sẻ cho tổ chức, cá nhân thực hiện theo các nguyên tắc sau: Tổ chức, cá nhân được quyền khai thác dữ liệu của mình hoặc dữ liệu của tổ chức, cá nhân khác khi được tổ chức, cá nhân đó chấp nhận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; các trường hợp ngoài quy định trên, dữ liệu của cơ quan nhà nước được chia sẻ cho tổ chức, cá nhân được thực hiện theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin và các quy định của pháp luật hiện hành. Yêu cầu quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu Cơ quan nhà nước thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu phải thực hiện, tuân thủ các yêu cầu sau: 1- Chỉ định một cán bộ làm đầu mối phụ trách kết nối và chia sẻ dữ liệu; công khai số điện thoại, địa chỉ thư điện tử, tên và vị trí, chức năng cán bộ đầu mối phụ trách. Cán bộ đầu mối phụ trách có trách nhiệm tiếp nhận, phối hợp, xử lý các vấn đề về kết nối, chia sẻ dữ liệu của cơ quan, đơn vị mình đối với cơ quan, đơn vị bên ngoài. 2- Công khai thông tin về đầu mối phụ trách kết nối, chia sẻ dữ liệu; các thông tin về sự sẵn sàng chia sẻ dữ liệu và các thông tin cần công bố khác theo quy định tại Nghị định này. 3- Tuân thủ các quy định về bảo mật thông tin; các quy định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến dữ liệu; quyền riêng tư của tổ chức, cá nhân. 4- Bảo đảm dữ liệu chia sẻ phải có khả năng gửi, nhận, lưu trữ, xử lý được bằng thiết bị số. 5- Tuân thủ các quy định, hướng dẫn kỹ thuật về trao đổi dữ liệu, về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước và các nguyên tắc được quy định tại Điều 5 của Nghị định này. 6- Phù hợp với Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam. Nghị định cũng quy định rõ các hành vi không được làm gồm: Cản trở hoạt động kết nối, quyền khai thác và sử dụng dữ liệu hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; mua bán, trao đổi, chia sẻ dữ liệu trái quy định của pháp luật; vi phạm các quy định về quyền sở hữu trí tuệ, quyền bảo vệ thông tin cá nhân khi kết nối, chia sẻ dữ liệu; làm sai lệch dữ liệu trong quá trình lưu chuyển dữ liệu từ cơ quan cung cấp dữ liệu tới cơ quan khai thác dữ liệu; phá hoại cơ sở hạ tầng thông tin, làm gián đoạn việc kết nối, chia sẻ dữ liệu. Nghị định có hiệu lực từ ngày 25/5/2020.
-
(Thanhuytphcm.vn) - Sáng 11/3/2022, UBND TP Thủ Đức tổ chức hội nghị chuyển giao và hướng dẫn sử dụng nền tảng chia sẻ dữ liệu không gian địa lý tài nguyên và môi trường do Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường cung cấp. Tham dự có các đồng chí: Bùi Hồng Sơn, Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường (trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường); Nguyễn Kỳ Phùng, Phó Chủ tịch UBND TP Thủ Đức. Tại hội nghị, đồng chí Bùi Hồng Sơn giới thiệu các nội dung về nền tảng như: cơ sở pháp lý, khái niệm có liên quan và hướng dẫn sử dụng các tính năng trên cổng thông tin dữ liệu tài nguyên và môi trường. Thông qua đó, dữ liệu, thông tin về tài nguyên môi trường sẽ dễ dàng được tiếp cận, khai thác và sử dụng hiệu quả, là nền tảng kiến tạo phát triển, tạo lập môi trường và điều kiện cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp đóng góp, phát triển kinh tế, xã hội của TPHCM. Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND TP Thủ Đức Nguyễn Kỳ Phùng cho biết, việc tích hợp và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu được chia sẻ từ sở ngành sẽ là cơ sở cho việc xây dựng Chính quyền điện tử hướng đến Chính quyền số TP Thủ Đức trong tương lai. Trên cơ sở tiếp thu các ý kiến đóng góp của các đơn vị tư vấn, các doanh nghiệp, tổ chức đang đồng hành, TP Thủ Đức sẽ ghi nhận và phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường cải thiện trong thời gian tới. Dịp này, UBND TP Thủ Đức và Trung tâm Công nghệ thông tin Tài nguyên và Môi trường tiến hành ký biên bản xác nhận cung cấp tài khoản sử dụng Nền tảng chia sẻ dữ liệu không gian địa lý ngành Tài nguyên và Môi trường TPHCM. Nguồn: Trang thông tin Điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh https://www.hcmcpv.org.vn
-
Chiều 30/11, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số chủ trì phiên họp thứ nhất của Ủy ban theo hình thức trực tuyến, kết nối với với điểm cầu các bộ, ngành, cơ quan, địa phương. Phát biểu ý kiến khai mạc phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, chuyển đổi số vừa là xu thế chung của thế giới, song cũng là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển đất nước. Phiên họp đầu tiên, ra mắt Ủy ban là bước triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về chuyển đổi số, với 3 trụ cột chính là Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số. Tại phiên họp, Ủy ban sẽ bàn, tiếp tục nâng cao nhận thức, thống nhất hành động; có kế hoạch, bước đi, phương pháp, nội dung để Ủy ban hoạt động một cách khoa học, hiệu quả, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Trước mắt là phục vụ phòng, chống dịch Covid-19; khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội; bảo đảm an ninh, quốc phòng; nâng cao vị thế, vai trò, tiềm lực của Việt Nam trên trường quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Tại phiên họp, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng nêu rõ, Chính phủ cần có một chiến lược về dữ liệu để tạo ra nhiều dữ liệu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác dữ liệu này để tạo ra giá trị. Đồng thời với nó là nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Bộ Công an sẽ trình Chính phủ chiến lược và nghị định này trong năm 2021. Chuyển đổi số là sáng tạo, mà phải là sự sáng tạo của toàn dân. Việt Nam mạnh nhất là khi phát huy được sức mạnh toàn dân. Để phát huy được sức mạnh toàn dân thì cách tốt nhất là công bố các bài toán chuyển đổi số, cả ở tầm quốc gia, bộ ngành và tầm các địa phương, cũng như bài toán chuyển đổi số của các doanh nghiệp. Bộ xin nhận làm đầu mối để công bố các bài toán chuyển đổi số. Chuyển đổi số là cái mới. Bởi vậy mà chia sẻ về cái mới thành công là cách tốt nhất để lan tỏa và đi nhanh. Cái mới thành công của các địa phương, các bộ, ngành, các doanh nghiệp và của cả các quốc gia khác nữa. Và không chỉ chia sẻ thành công mà cả các dự án thất bại và các bài học thất bại nữa. Đề nghị Ủy ban Quốc gia cho ý kiến về một trang web quốc gia để chia sẻ các kinh nghiệm chuyển đổi số. Doanh nghiệp công nghệ số là trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo trong chuyển đổi số. Nhưng họ cần thị trường để nuôi sống họ. Họ cần được tiếp cận và tham gia vào các dự án chuyển đổi số, cả của Nhà nước và của các doanh nghiệp. Để thúc đẩy chuyển đổi số đi nhanh và đi đúng hướng thì một bộ chỉ số đo lường, đánh giá về chuyển đổi số là rất quan trọng. Chúng ta đã ban hành và tiến hành đánh giá, công bố lần đầu về chuyển đổi số chính quyền, bao gồm bộ, ngành và địa phương. Tiếp theo sẽ là bộ chỉ số đo lường về kinh tế số và xã hội số do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, cùng với Bộ chỉ số đánh giá về chuyển đổi số doanh nghiệp do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì sẽ được ban hành trong năm nay. Phải lấy người dân là trung tâm, động lực cho phát triển chuyển đổi số Phát biểu ý kiến kết luận phiên họp, đề cập nhiệm vụ thời gian tới, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh cần thống nhất quan điểm chuyển đổi số là một xu thế của thế giới, một yêu cầu đòi hỏi khách quan của sự phát triển, không thể không làm, không thể đứng ngoài cuộc. Chuyển đổi số có tính chất toàn cầu, phải có cách tiếp cận toàn cầu. Chuyển đổi số tác động các cơ quan đơn vị địa phương, do đó phải bắt tay vào làm, tạo ra hệ thống tổng thể, liên thông. Các bộ ngành trong hệ thống chính trị phải làm, liên thông từ trung ương đến cơ sở. Chuyển đổi số tác động mọi người dân, do đó phải lấy người dân là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực cho phát triển chuyển đổi số. Mọi chính sách đều hướng về người dân và doanh nghiệp. Mọi người dân đều phải tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Phải có tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược, hợp lý, bám sát thực tiễn khách quan, điều kiện hoàn cảnh, xây dựng chương trình, kế hoạch, làm việc có trọng tâm, trọng điểm, có sức lan tỏa rộng, mang lại lợi ích cho nhiều người, doanh nghiệp. Phải đầu tư thích đáng cho hoàn thiện thể chế, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; cho quản trị khoa học, hợp lý, hiệu quả. Thúc đẩy hợp tác công tư trong chuyển đổi số vì nguồn lực nhà nước có hạn. Đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, kích hoạt mọi nguồn lực trong xã hội. Nâng cao nhận thức, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải cao, nỗ lực phải lớn, hành động quyết liệt, làm việc nào dứt điểm việc đó, thiết thực, hiệu quả, khoa học, không để dàn trải. Tăng cường giám sát, kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm trong công tác này. Tăng cường công tác truyền thông đến với mọi người, nhất là người dân, doanh nghiệp, tạo sự đồng thuận, hưởng ứng, vào cuộc cùng các cấp chính quyền, giải quyết tốt mối quan hệ Nhà nước, thị trường, xã hội. Phát triển hài hòa hợp lý gắn kết giữa công nghệ và cải cách hành chính; phát triển phải có kế thừa, đổi mới, sáng tạo. Về các công việc cụ thể, Thủ tướng nêu rõ, phải nâng cao nhận thức tầm quan trọng của công việc này ở các cấp, các ngành, đặc biệt người đứng đầu. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho chuyển đổi số. Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo. Tiếp tục hoàn thiện các cơ sở dữ liệu hiện đang là điểm yếu. Triển khai chương trình phát triển công dân số bởi chính quyền số không có công dân số thì cũng vô dụng. Khi xây dựng Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số thì phải có công dân số tương ứng, hài hòa các trụ cột này mà chúng ta phải đầu tư. Tích cực hợp tác giữa các địa phương, quốc tế. Các bộ ngành phải chia sẻ dữ liệu; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; tránh tình trạng thành tích, cục bộ. Về kế hoạch chuyển đổi số quốc gia năm 2022, Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, địa phương phải quyết tâm thực hiện tạo đột phá, xuất phát từ thống nhất nhận thức, quan điểm chỉ đạo, phải bố trí nguồn lực hợp lý. Bộ Thông tin và Truyền thông sớm hoàn thiện kế hoạch hoạt động của Ủy ban năm 2022 cụ thể, chi tiết; có kiểm điểm, đánh giá kết quả. Việc đôn đốc, kiểm tra, giám sát thực hiện các chương trình, kế hoạch phải được coi trọng hơn ở các cấp, các ngành. Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành làm tốt các nhiệm vụ, theo đó, Bộ Công an tập trung xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định về định danh và xác thực điện tử và Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân; trình cấp có thẩm quyền ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong quý IV/2022. Cùng với Văn phòng Chính phủ phối hợp với các Bộ: Thông tin và Truyền thông, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng Đề án đẩy mạnh ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và chuyển đổi số quốc gia, hoàn thành và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để tổ chức triển khai thực hiện trong tháng 12/2021... Bộ Thông tin và Truyền thông thúc đẩy phát triển hạ tầng số, bảo đảm an toàn thông tin, kết nối, chia sẻ dữ liệu trong chuyển đổi số quốc gia. Văn phòng Chính phủ tập trung xây dựng, phát triển hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở phát triển Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ kết nối với các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin báo cáo của bộ, ngành, địa phương; xây dựng và phát triển các công cụ phân tích dữ liệu, dự báo hỗ trợ chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu số. Bộ Tài chính thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn điện tử, gắn với phát triển kinh tế số, phổ cập chữ ký số. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đẩy mạnh chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa để thúc đẩy phát triển kinh tế số; theo dõi vấn đề đầu tư công. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có giải pháp đột phá để phổ cập thanh toán số, thanh toán không dùng tiền mặt theo hướng thuận tiện, dễ dàng và an toàn hơn, giúp các hoạt động kinh tế minh bạch hơn, hạn chế gian lận, tiêu cực trong thanh toán, tạo nền móng phát triển giao dịch trực tuyến và kinh tế số. Bộ Nội vụ thúc đẩy gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính và chuyển đổi số, Chính phủ số. Hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, để quản lý đồng bộ, thống nhất, minh bạch, kịp thời tạo nguồn dữ liệu cốt lõi cho phát triển Chính phủ số. Bộ Xây dựng chủ trì nghiên cứu, xây dựng quy hoạch phát triển đô thị thông minh theo Đề án 950 về phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam; tăng cường quản lý về quy hoạch, kiến trúc. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp Bộ Thông tin và Truyền thông thúc đẩy ứng dụng Hồ sơ sức khỏe điện tử hiệu quả. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thúc đẩy chuyển đổi số cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân. Bộ Tài nguyên và Môi trường có cơ sở dữ liệu quản lý đất đai, môi trường, cảnh báo thiên tai, sạt lở đất. Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung hoàn thiện tiêu chí, tiêu chuẩn, quy trình về ngành giáo dục, đào tạo số với định hướng, chiến lược có tầm nhìn…
-
Ngày 5/12/2021, Bộ Tài chính cho biết vừa hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản. Trên cơ sở quan điểm mức phí bảo vệ môi trường phải căn cứ vào khối lượng chất thải ra môi trường và mức độ ô nhiễm trong quá trình khai thác khoáng sản gây ra, Bộ Tài chính cho rằng, các quy định hiện hành phát sinh một số vấn đề cần hoàn thiện. Mục đích chính là từng bước hạn chế tác động xấu đến môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản. Hiện nay, quy định khung mức phí đối với sỏi, cuội, sạn, cát, đất sét, đá… là từ 1.500 - 1.600 đồng/m3. Theo Bộ Tài chính, mức phí này còn thấp, chưa khuyến khích sử dụng vật liệu khác thay thế. Do vậy, đơn vị này đề xuất trình Chính phủ điều chỉnh tăng khung mức phí đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường. Mức phí tối thiểu bằng mức phí tối đa hiện hành và mức phí tối đa bằng 200% mức phí hiện hành. Cụ thể, mức phí từ 2.000 -12.000 đồng/m3, tùy loại khoáng sản trong khi mức hiện hành là từ 1.000 – 6.000 đồng/m3. Bên cạnh đó, để khuyến khích tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản sử dụng đất đá bốc xúc thải ra để cải tạo, phục hồi môi trường, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định miễn thu phí đối với việc sử dụng đất đá bốc xúc để cải tạo, phục hồi môi trường. Đồng thời, miễn thu phí với tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trong diện tích đất ở thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để xây dựng các công trình của hộ gia đình, cá nhân trong diện tích đó. Tổ chức, cá nhân khai thác đất đá để san lấp, xây dựng công trình an ninh, quân sự, phòng chống thiên tai, khắc phục thiên tai. Theo thống kê, số thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách. Số thu phí năm 2017 là 3.029 tỉ đồng; năm 2018 là 3.448 tỉ đồng; năm 2019 là 3.737 tỉ đồng; năm 2020 là 3.576 tỉ đồng.
-
Để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo Chương trình Nghị sự 2030, Việt Nam cần đo vẽ, lập bản đồ trên toàn bộ diện tích đất liền và vùng biển. Điều này giúp quản lý bền vững và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản. * Lập bản đồ khoáng sản trên đất liền Theo lộ trình đặt ra, Việt Nam sẽ có 75% diện tích phần đất liền được lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000. Tỷ lệ này đến năm 2030 là 100%. Công tác đo vẽ bản đồ địa chất khoáng sản để lập bản đồ địa chất hướng đến phục vụ việc phát hiện, dự báo triển vọng tài nguyên khoáng sản và các tài nguyên địa chất khác, xác định hiện trạng môi trường địa chất và dự báo các tai biến địa chất, từ đó, góp phần quản lý hiệu quả tài nguyên khoáng sản của Việt Nam. Đến cuối năm 2018, khoảng 71% diện tích lãnh thổ phần đất liền (tương đương gần 235 nghìn km2 ) đã được lập bản đồ địa chất, khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 với trên 5000 điểm khoáng sản được phát hiện. Theo thông tin của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, tất cả các đô thị loại 1, 2 và hầu hết đô thị loại 3 đã được điều tra địa chất, thành lập hệ thống bản đồ địa chất, khoáng sản, địa chất thủy văn - địa chất công trình, địa chất môi trường, bản đồ sử dụng đất phục vụ quy hoạch phát triển đô thị. Kết quả thực hiện năm 2020, có 73% diện tích lãnh thổ phần đất liền được lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000. Để hoàn thành lộ trình, Việt Nam cần tăng cường tối đa năng lực quản lý, lập kế hoạch điều tra, khảo sát cụ thể để hướng đến mục tiêu 100% diện tích đất liền được lập bản đồ địa chất, khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 vào năm 2030. * Liệu có hoàn thành mục tiêu 100% diện tích phần đất liền Việt Nam được bay đo từ phổ gamma tỷ lệ 1:50.000? Mục tiêu 100% diện tích phần đất liền Việt Nam được bay đo từ phổ gamma tỷ lệ 1:50.000 vào năm 2030 và trước đó, lộ trình đến năm 2025 là 70% hiện còn nhiều thách thức. Theo số liệu của Bộ TN&MT, diện tích đất liền Việt Nam được bay đo từ phổ gamma tỷ lệ 1:50.000 tính đến hết năm 2020 đạt 27,3%, rất thấp so với lộ trình đặt ra cho năm 2020 là 50%. Nếu không tích cực cải thiện tình hình trong những năm tới thì Việt Nam có nguy cơ không đạt tỷ lệ bao phủ 100% diện tích đất liền Việt Nam được bay đo từ phổ gamma tỷ lệ 1:50.000 như lộ trình đề ra. Đáng lưu ý là công tác bay đo từ phổ gamma nếu chỉ nhằm mục đích đánh giá và dự báo triển vọng khoáng sản, hướng đến khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên khoáng sản thì không nhất thiết phải đạt được mục tiêu bay đo 100% diện tích đất liền mà chỉ cần tập trung vào các vùng có tiềm năng khoáng sản cao, phù hợp với việc khai thác ở quy mô lớn hoặc phù hợp với quy hoạch sử dụng đất quốc gia và cần đạt độ chi tiết cao. Vì vậy, Chính phủ có thể xem xét điều chỉnh lộ trình cho chỉ tiêu này cho các năm tiếp theo. * Thúc đẩy đo vẽ từ, trọng lực vùng biển đảo Theo số liệu của Bộ TN&MT, tính đến tháng 6 năm 2019 mới chỉ có 25% diện tích vùng biển và hải đảo Việt Nam được bay đo từ, trọng lực tỷ lệ 1:250.000. Hiện vẫn còn khoảng 18% diện tích vùng biển chưa được lập hải đồ, bản đồ. Phần lớn diện tích vùng biển nông và vùng biển sâu, xa bờ chưa được điều tra địa chất khoáng sản biển. Năm 2013, Dự án “Bay đo từ - trọng lực tỷ lệ 1:250.000 biển và hải đảo Việt Nam” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và giao cho Tổng cục Địa chất và Khoáng sản thực hiện. Hy vọng rằng, khi kết quả nghiên cứu của dự án này được hoàn thiện, đưa vào triển khai thực tế cũng như khi công nghệ và kỹ thuật được chuyển giao đầy đủ thì tỷ lệ diện tích vùng biển và hải đảo Việt Nam được bay đo từ, trọng lực tỷ lệ 1:250.000 có triển vọng sẽ tăng nhanh trong giai đoạn tới.
HCMC GEOPORTAL