From 1 - 10 / 447
  • Categories      

    Sáng ngày 1 tháng 12 năm 2021, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã tiếp và làm việc với Đại sứ Phần Lan tại Việt Nam Keijo Norvanto nhân dịp Đại sứ đến nhận nhiệm vụ tại Việt Nam. Tại buổi tiếp và làm việc, Bộ trưởng Trần Hồng Hà chúc mừng Đại sứ Keijo Norvanto đến nhận nhiệm vụ tại Việt Nam, chúc Đại sứ có nhiệm kỳ công tác thành công đồng thời mong muốn Đại sứ quan tâm thúc đẩy hợp tác với Bộ Tài nguyên và Môi trường sâu, rộng hơn nữa trong thời gian tới. Bộ trưởng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã có nhiều hoạt động hợp tác với các đối tác Phần Lan trong các lĩnh vực: khí tượng thủy văn, bảo vệ môi trường, kinh tế tuần hoàn. Trong đó, nổi bật là các dự án trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, góp phần nâng cao năng lực cho ngành khí tượng thủy văn Việt Nam. Hiện nay, các đơn vị của Bộ cũng đang tích cực đề xuất các dự án hợp tác tiếp theo sử dụng nguồn vốn hỗ trợ của Phần Lan. Đại sứ Keijo Norvanto mong muốn, trong nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam Bộ Tài nguyên và Môi trường nói riêng và Việt Nam nói chung sẽ phối hợp chặt chẽ với để cùng xây dựng những mục tiêu chung về bảo vệ môi trường, giảm thiểu và thích ứng biến đổi khí hậu. Đồng thời đề nghị hai bên tiếp tục phát triển hơn nữa để phát huy những kết quả của những dự án hợp tác trước đây về tăng cường năng lực quan trắc khí tượng thủy văn, phòng chống thiên tai; dự báo ô nhiễm; quản lý rác thải; ứng phó với biến đổi khí hậu… Đại sứ quán Phần Lan hy vọng Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ là cầu nối để các cơ quan quản lý, doanh nghiệp hai bên cùng nhau xây dựng các chương trình phối hợp, hợp tác… Ghi nhận những ý kiến của Đại sứ Keijo Norvanto, Bộ trưởng Trần Hồng Hà chia sẻ, tại Hội nghị COP26 vừa diễn ra tại Glasgow, Vương Quốc Anh, Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Hội nghị thượng định về khí hậu COP 26 cam kết Việt Nam đạt mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 với lời kêu gọi đoàn kết trên toàn cầu, đưa vấn đề ứng phó BĐKH, phục hồi tự nhiên phải trở thành ưu tiên cao nhất, là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất.Ngoài ra Thủ tướng còn tham dự lễ công bố Tuyên bố giảm phát thải metan toàn cầu và tham gia dự kiện Công bố Tuyên bố Glasgow của các nhà lãnh đạo về Rừng và Sử dụng đất. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan rà soát và cập nhật Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu cho giai đoạn từ nay tới 2050 bao gồm các cam kết của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị COP26. Bộ trưởng cho biết, Bộ Tài nguyên và Môi trường mong muốn của Đại sứ quán Phần Lan hỗ trợ Bộ TN&MT trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học - công nghệ, chuyển giao kinh nghiệm và tri thức về khoa học - công nghệ tiên tiến, mới nhất, giúp Bộ TN&MT thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế tuần hoàn. Ngoài ra, việc xây dựng thị trường trao đổi tín chỉ carbon là một trong những công cụ quan trọng nhất trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Với những tiềm năng và cơ hội sẵn có, Việt Nam mong muốn Phần Lan sẽ hỗ trợ và đồng hành cùng với Việt Nam để từng bước mở rộng con đường tham gia thị trường trao đổi tín chỉ carbon.

  • Tổ chức phát triển mở vùng Mekong (Open Development Mekong - https://opendevelopmentmekong.net/) công bố các dịch vụ Web dưới dạng OGC WFS nhằm cung cấp nhiều dữ liệu không gian địa lý khác nhau của các quốc gia: Việt Nam, Cambodia, Laos, Myanma, Thailand. Tổ chức phát triển mở vùng Mekong dựa trên việc trình bày dữ liệu một cách khách quan, sử dụng các tiêu chuẩn dữ liệu mở cùng với phân tích khách quan thông qua hình ảnh trực quan, cuộc họp, bản đồ và các sản phẩm dữ liệu khác để tăng tính minh bạch và khả năng truy cập. Nền tảng này kể từ đó đã phát triển thành một mạng lưới hỗ trợ dữ liệu và quyền kỹ thuật số được phản ánh và có thể truy cập được cho tất cả công dân trên toàn khu vực sông Mekong. Đối tượng mục tiêu của tổ chức là xã hội dân sự, khu vực tư nhân, chính phủ, học viện và các cộng đồng bị thiệt thòi sử dụng kho dữ liệu và thông tin phong phú của ODM để hỗ trợ nghiên cứu, phân tích và ra quyết định. Cách tiếp cận này nguyên bản hỗ trợ dữ liệu nguồn cung ứng cộng đồng và tạo điều kiện thuận lợi cho các quan điểm đa ngành và xuyên quốc gia. Trung tâm CNTT TNMT giới thiệu để các bạn có thể khai thác và sử dụng. Khi sử dụng dữ liệu này cần xem xét, đánh giá tính chính xác và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

  • Để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo Chương trình Nghị sự 2030, Việt Nam cần đo vẽ, lập bản đồ trên toàn bộ diện tích đất liền và vùng biển. Điều này giúp quản lý bền vững và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản. * Lập bản đồ khoáng sản trên đất liền Theo lộ trình đặt ra, Việt Nam sẽ có 75% diện tích phần đất liền được lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000. Tỷ lệ này đến năm 2030 là 100%. Công tác đo vẽ bản đồ địa chất khoáng sản để lập bản đồ địa chất hướng đến phục vụ việc phát hiện, dự báo triển vọng tài nguyên khoáng sản và các tài nguyên địa chất khác, xác định hiện trạng môi trường địa chất và dự báo các tai biến địa chất, từ đó, góp phần quản lý hiệu quả tài nguyên khoáng sản của Việt Nam. Đến cuối năm 2018, khoảng 71% diện tích lãnh thổ phần đất liền (tương đương gần 235 nghìn km2 ) đã được lập bản đồ địa chất, khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 với trên 5000 điểm khoáng sản được phát hiện. Theo thông tin của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, tất cả các đô thị loại 1, 2 và hầu hết đô thị loại 3 đã được điều tra địa chất, thành lập hệ thống bản đồ địa chất, khoáng sản, địa chất thủy văn - địa chất công trình, địa chất môi trường, bản đồ sử dụng đất phục vụ quy hoạch phát triển đô thị. Kết quả thực hiện năm 2020, có 73% diện tích lãnh thổ phần đất liền được lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000. Để hoàn thành lộ trình, Việt Nam cần tăng cường tối đa năng lực quản lý, lập kế hoạch điều tra, khảo sát cụ thể để hướng đến mục tiêu 100% diện tích đất liền được lập bản đồ địa chất, khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 vào năm 2030. * Liệu có hoàn thành mục tiêu 100% diện tích phần đất liền Việt Nam được bay đo từ phổ gamma tỷ lệ 1:50.000? Mục tiêu 100% diện tích phần đất liền Việt Nam được bay đo từ phổ gamma tỷ lệ 1:50.000 vào năm 2030 và trước đó, lộ trình đến năm 2025 là 70% hiện còn nhiều thách thức. Theo số liệu của Bộ TN&MT, diện tích đất liền Việt Nam được bay đo từ phổ gamma tỷ lệ 1:50.000 tính đến hết năm 2020 đạt 27,3%, rất thấp so với lộ trình đặt ra cho năm 2020 là 50%. Nếu không tích cực cải thiện tình hình trong những năm tới thì Việt Nam có nguy cơ không đạt tỷ lệ bao phủ 100% diện tích đất liền Việt Nam được bay đo từ phổ gamma tỷ lệ 1:50.000 như lộ trình đề ra. Đáng lưu ý là công tác bay đo từ phổ gamma nếu chỉ nhằm mục đích đánh giá và dự báo triển vọng khoáng sản, hướng đến khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên khoáng sản thì không nhất thiết phải đạt được mục tiêu bay đo 100% diện tích đất liền mà chỉ cần tập trung vào các vùng có tiềm năng khoáng sản cao, phù hợp với việc khai thác ở quy mô lớn hoặc phù hợp với quy hoạch sử dụng đất quốc gia và cần đạt độ chi tiết cao. Vì vậy, Chính phủ có thể xem xét điều chỉnh lộ trình cho chỉ tiêu này cho các năm tiếp theo. * Thúc đẩy đo vẽ từ, trọng lực vùng biển đảo Theo số liệu của Bộ TN&MT, tính đến tháng 6 năm 2019 mới chỉ có 25% diện tích vùng biển và hải đảo Việt Nam được bay đo từ, trọng lực tỷ lệ 1:250.000. Hiện vẫn còn khoảng 18% diện tích vùng biển chưa được lập hải đồ, bản đồ. Phần lớn diện tích vùng biển nông và vùng biển sâu, xa bờ chưa được điều tra địa chất khoáng sản biển. Năm 2013, Dự án “Bay đo từ - trọng lực tỷ lệ 1:250.000 biển và hải đảo Việt Nam” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và giao cho Tổng cục Địa chất và Khoáng sản thực hiện. Hy vọng rằng, khi kết quả nghiên cứu của dự án này được hoàn thiện, đưa vào triển khai thực tế cũng như khi công nghệ và kỹ thuật được chuyển giao đầy đủ thì tỷ lệ diện tích vùng biển và hải đảo Việt Nam được bay đo từ, trọng lực tỷ lệ 1:250.000 có triển vọng sẽ tăng nhanh trong giai đoạn tới.

  • Categories      

    Ngày 5/12/2021, Bộ Tài chính cho biết vừa hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản. Trên cơ sở quan điểm mức phí bảo vệ môi trường phải căn cứ vào khối lượng chất thải ra môi trường và mức độ ô nhiễm trong quá trình khai thác khoáng sản gây ra, Bộ Tài chính cho rằng, các quy định hiện hành phát sinh một số vấn đề cần hoàn thiện. Mục đích chính là từng bước hạn chế tác động xấu đến môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản. Hiện nay, quy định khung mức phí đối với sỏi, cuội, sạn, cát, đất sét, đá… là từ 1.500 - 1.600 đồng/m3. Theo Bộ Tài chính, mức phí này còn thấp, chưa khuyến khích sử dụng vật liệu khác thay thế. Do vậy, đơn vị này đề xuất trình Chính phủ điều chỉnh tăng khung mức phí đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường. Mức phí tối thiểu bằng mức phí tối đa hiện hành và mức phí tối đa bằng 200% mức phí hiện hành. Cụ thể, mức phí từ 2.000 -12.000 đồng/m3, tùy loại khoáng sản trong khi mức hiện hành là từ 1.000 – 6.000 đồng/m3. Bên cạnh đó, để khuyến khích tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản sử dụng đất đá bốc xúc thải ra để cải tạo, phục hồi môi trường, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định miễn thu phí đối với việc sử dụng đất đá bốc xúc để cải tạo, phục hồi môi trường. Đồng thời, miễn thu phí với tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trong diện tích đất ở thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để xây dựng các công trình của hộ gia đình, cá nhân trong diện tích đó. Tổ chức, cá nhân khai thác đất đá để san lấp, xây dựng công trình an ninh, quân sự, phòng chống thiên tai, khắc phục thiên tai. Theo thống kê, số thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách. Số thu phí năm 2017 là 3.029 tỉ đồng; năm 2018 là 3.448 tỉ đồng; năm 2019 là 3.737 tỉ đồng; năm 2020 là 3.576 tỉ đồng.

  • Categories      

    Chiều 30/11, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số chủ trì phiên họp thứ nhất của Ủy ban theo hình thức trực tuyến, kết nối với với điểm cầu các bộ, ngành, cơ quan, địa phương. Phát biểu ý kiến khai mạc phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, chuyển đổi số vừa là xu thế chung của thế giới, song cũng là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển đất nước. Phiên họp đầu tiên, ra mắt Ủy ban là bước triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về chuyển đổi số, với 3 trụ cột chính là Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số. Tại phiên họp, Ủy ban sẽ bàn, tiếp tục nâng cao nhận thức, thống nhất hành động; có kế hoạch, bước đi, phương pháp, nội dung để Ủy ban hoạt động một cách khoa học, hiệu quả, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Trước mắt là phục vụ phòng, chống dịch Covid-19; khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội; bảo đảm an ninh, quốc phòng; nâng cao vị thế, vai trò, tiềm lực của Việt Nam trên trường quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Tại phiên họp, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng nêu rõ, Chính phủ cần có một chiến lược về dữ liệu để tạo ra nhiều dữ liệu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác dữ liệu này để tạo ra giá trị. Đồng thời với nó là nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Bộ Công an sẽ trình Chính phủ chiến lược và nghị định này trong năm 2021. Chuyển đổi số là sáng tạo, mà phải là sự sáng tạo của toàn dân. Việt Nam mạnh nhất là khi phát huy được sức mạnh toàn dân. Để phát huy được sức mạnh toàn dân thì cách tốt nhất là công bố các bài toán chuyển đổi số, cả ở tầm quốc gia, bộ ngành và tầm các địa phương, cũng như bài toán chuyển đổi số của các doanh nghiệp. Bộ xin nhận làm đầu mối để công bố các bài toán chuyển đổi số. Chuyển đổi số là cái mới. Bởi vậy mà chia sẻ về cái mới thành công là cách tốt nhất để lan tỏa và đi nhanh. Cái mới thành công của các địa phương, các bộ, ngành, các doanh nghiệp và của cả các quốc gia khác nữa. Và không chỉ chia sẻ thành công mà cả các dự án thất bại và các bài học thất bại nữa. Đề nghị Ủy ban Quốc gia cho ý kiến về một trang web quốc gia để chia sẻ các kinh nghiệm chuyển đổi số. Doanh nghiệp công nghệ số là trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo trong chuyển đổi số. Nhưng họ cần thị trường để nuôi sống họ. Họ cần được tiếp cận và tham gia vào các dự án chuyển đổi số, cả của Nhà nước và của các doanh nghiệp. Để thúc đẩy chuyển đổi số đi nhanh và đi đúng hướng thì một bộ chỉ số đo lường, đánh giá về chuyển đổi số là rất quan trọng. Chúng ta đã ban hành và tiến hành đánh giá, công bố lần đầu về chuyển đổi số chính quyền, bao gồm bộ, ngành và địa phương. Tiếp theo sẽ là bộ chỉ số đo lường về kinh tế số và xã hội số do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, cùng với Bộ chỉ số đánh giá về chuyển đổi số doanh nghiệp do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì sẽ được ban hành trong năm nay. Phải lấy người dân là trung tâm, động lực cho phát triển chuyển đổi số Phát biểu ý kiến kết luận phiên họp, đề cập nhiệm vụ thời gian tới, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh cần thống nhất quan điểm chuyển đổi số là một xu thế của thế giới, một yêu cầu đòi hỏi khách quan của sự phát triển, không thể không làm, không thể đứng ngoài cuộc. Chuyển đổi số có tính chất toàn cầu, phải có cách tiếp cận toàn cầu. Chuyển đổi số tác động các cơ quan đơn vị địa phương, do đó phải bắt tay vào làm, tạo ra hệ thống tổng thể, liên thông. Các bộ ngành trong hệ thống chính trị phải làm, liên thông từ trung ương đến cơ sở. Chuyển đổi số tác động mọi người dân, do đó phải lấy người dân là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực cho phát triển chuyển đổi số. Mọi chính sách đều hướng về người dân và doanh nghiệp. Mọi người dân đều phải tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Phải có tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược, hợp lý, bám sát thực tiễn khách quan, điều kiện hoàn cảnh, xây dựng chương trình, kế hoạch, làm việc có trọng tâm, trọng điểm, có sức lan tỏa rộng, mang lại lợi ích cho nhiều người, doanh nghiệp. Phải đầu tư thích đáng cho hoàn thiện thể chế, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; cho quản trị khoa học, hợp lý, hiệu quả. Thúc đẩy hợp tác công tư trong chuyển đổi số vì nguồn lực nhà nước có hạn. Đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, kích hoạt mọi nguồn lực trong xã hội. Nâng cao nhận thức, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải cao, nỗ lực phải lớn, hành động quyết liệt, làm việc nào dứt điểm việc đó, thiết thực, hiệu quả, khoa học, không để dàn trải. Tăng cường giám sát, kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm trong công tác này. Tăng cường công tác truyền thông đến với mọi người, nhất là người dân, doanh nghiệp, tạo sự đồng thuận, hưởng ứng, vào cuộc cùng các cấp chính quyền, giải quyết tốt mối quan hệ Nhà nước, thị trường, xã hội. Phát triển hài hòa hợp lý gắn kết giữa công nghệ và cải cách hành chính; phát triển phải có kế thừa, đổi mới, sáng tạo. Về các công việc cụ thể, Thủ tướng nêu rõ, phải nâng cao nhận thức tầm quan trọng của công việc này ở các cấp, các ngành, đặc biệt người đứng đầu. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho chuyển đổi số. Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo. Tiếp tục hoàn thiện các cơ sở dữ liệu hiện đang là điểm yếu. Triển khai chương trình phát triển công dân số bởi chính quyền số không có công dân số thì cũng vô dụng. Khi xây dựng Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số thì phải có công dân số tương ứng, hài hòa các trụ cột này mà chúng ta phải đầu tư. Tích cực hợp tác giữa các địa phương, quốc tế. Các bộ ngành phải chia sẻ dữ liệu; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; tránh tình trạng thành tích, cục bộ. Về kế hoạch chuyển đổi số quốc gia năm 2022, Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, địa phương phải quyết tâm thực hiện tạo đột phá, xuất phát từ thống nhất nhận thức, quan điểm chỉ đạo, phải bố trí nguồn lực hợp lý. Bộ Thông tin và Truyền thông sớm hoàn thiện kế hoạch hoạt động của Ủy ban năm 2022 cụ thể, chi tiết; có kiểm điểm, đánh giá kết quả. Việc đôn đốc, kiểm tra, giám sát thực hiện các chương trình, kế hoạch phải được coi trọng hơn ở các cấp, các ngành. Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành làm tốt các nhiệm vụ, theo đó, Bộ Công an tập trung xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định về định danh và xác thực điện tử và Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân; trình cấp có thẩm quyền ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong quý IV/2022. Cùng với Văn phòng Chính phủ phối hợp với các Bộ: Thông tin và Truyền thông, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng Đề án đẩy mạnh ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và chuyển đổi số quốc gia, hoàn thành và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để tổ chức triển khai thực hiện trong tháng 12/2021... Bộ Thông tin và Truyền thông thúc đẩy phát triển hạ tầng số, bảo đảm an toàn thông tin, kết nối, chia sẻ dữ liệu trong chuyển đổi số quốc gia. Văn phòng Chính phủ tập trung xây dựng, phát triển hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở phát triển Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ kết nối với các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin báo cáo của bộ, ngành, địa phương; xây dựng và phát triển các công cụ phân tích dữ liệu, dự báo hỗ trợ chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu số. Bộ Tài chính thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn điện tử, gắn với phát triển kinh tế số, phổ cập chữ ký số. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đẩy mạnh chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa để thúc đẩy phát triển kinh tế số; theo dõi vấn đề đầu tư công. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có giải pháp đột phá để phổ cập thanh toán số, thanh toán không dùng tiền mặt theo hướng thuận tiện, dễ dàng và an toàn hơn, giúp các hoạt động kinh tế minh bạch hơn, hạn chế gian lận, tiêu cực trong thanh toán, tạo nền móng phát triển giao dịch trực tuyến và kinh tế số. Bộ Nội vụ thúc đẩy gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính và chuyển đổi số, Chính phủ số. Hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, để quản lý đồng bộ, thống nhất, minh bạch, kịp thời tạo nguồn dữ liệu cốt lõi cho phát triển Chính phủ số. Bộ Xây dựng chủ trì nghiên cứu, xây dựng quy hoạch phát triển đô thị thông minh theo Đề án 950 về phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam; tăng cường quản lý về quy hoạch, kiến trúc. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp Bộ Thông tin và Truyền thông thúc đẩy ứng dụng Hồ sơ sức khỏe điện tử hiệu quả. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thúc đẩy chuyển đổi số cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân. Bộ Tài nguyên và Môi trường có cơ sở dữ liệu quản lý đất đai, môi trường, cảnh báo thiên tai, sạt lở đất. Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung hoàn thiện tiêu chí, tiêu chuẩn, quy trình về ngành giáo dục, đào tạo số với định hướng, chiến lược có tầm nhìn…

  • Categories      

    Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về việc cập nhật và chi tiết hóa các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường giao Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan nghiên cứu và các đơn vị quản lý nhà nước, xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng chi tiết cho Việt Nam. Kịch bản biến đổi khí hậu chi tiết năm 2016 được xây dựng dựa trên cơ sở các số liệu khí tượng thủy văn và mực nước biển của Việt Nam cập nhật đến năm 2014; số liệu địa hình được cập nhật đến tháng 3 năm 2016.

  • Ngày 19 tháng 7 năm 2018, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường đã ký ban hành Quyết định số 1048/QĐ-STNMT-TTCNTT công bố Kiến trúc tổng thể công nghệ thông tin ngành tài nguyên và môi trường thành phố Hồ Chí Minh. Quyết định nêu rõ các phòng, ban, đơn vị thuộc Sở khi thực hiện các dự án liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin ngành tài nguyên và môi trường trên địa bành thành phố phải tuân thủ theo nội dung, lộ trình thực hiện “Kiến trúc tổng thể công nghệ thông tin ngành tài nguyên và môi trường thành phố Hồ Chí Minh”. Các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh khi thực hiện các dự án liên quan đến thông tin, dữ liệu ngành tài nguyên và môi trường cần tham khảo và phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường để thực hiện đồng bộ, thống nhất theo “Kiến trúc tổng thể công nghệ thông tin ngành tài nguyên và môi trường thành phố Hồ Chí Minh” nhằm đảm bảo kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu ngành tài nguyên và môi trường với kho dữ liệu dùng chung của thành phố. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

  • - Huyện Nhà Bè nằm về phía Đông Nam của thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm Thành phố 12 - 15km. Là cửa ngõ phía Nam của Thành phố, Nhà Bè có hệ thống giao thông nối liền Thành phố với hướng ra biển và đi các tỉnh miền Tây và cũng là trục phát triển không gian chính của Thành phố về hướng biển. Huyện gồm 06 xã: Phú Xuân, Phước Lộc, Phước Kiển, Nhơn Đức, Long Thới, Hiệp Phước và 01 thị trấn: thị trấn Nhà Bè - Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 huyện Nhà Bè là nhiệm vụ phải thực hiện, nhằm cụ thể hóa công tác quản lý và sử dụng đất trong năm 2018. Kế hoạch sử dụng đất sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt sẽ là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, nhằm khai thác và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai để thực hiện các công trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của huyện. - Kế hoạch sử dụng đất Huyện Nhà Bè năm 2018 được phê duyệt theo Quyết định số 445/QĐ-UBND ngày 30/01/2018 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh. Trong kế hoạch sử dụng đất năm 2018, trên địa bàn huyện Nhà Bè có 22 công trình, dự án được đăng ký mới và 103 công trình, dự án được chuyển tiếp từ các năm trước. - Bản đồ Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 huyện Nhà Bè được thu thập, chuẩn hóa và cung cấp dữ liệu qua dịch vụ Web theo tiêu chuẩn OGC WFS, WMTS, WMS.

  • Dữ liệu ranh thửa đất Phường 15, Quận 8, TP. Hồ Chí Minh, được xây dựng năm 2014 trong công tác "Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai thành phố Hồ Chí Minh" theo Quyết định số 5946/QĐ-UBND ngày 29/12/2009, CSDL địa chính của công tác này được xây dựng từ các nguồn: hồ sơ dữ liệu đất đai từ trước 1975, hồ sơ đất đai theo quyết định 6280/QĐ-UB-QLĐT, kết quả tổng điều tra kê khai đăng ký nhà đất năm 1999, sổ điều tra điền dã - tổng kiểm kê đất đai 2010, hồ sơ GCNQSDĐ được cấp theo các quyết định 38/2002/QĐ-UB-ĐT, 04/2003/QĐ-UB, 90/2004/QĐ-UB và 54/2007/QĐ-UBND, bản đồ bằng khoán trước 1975, bản đồ giải thửa 299/TTg, bản đồ địa chính 02/CT-UB, sơ đồ nền và bản đồ địa chính chính quy. Cơ sở dữ liệu địa chính được lưu trữ dưới dạng ESRI GeoDatabase theo phần mềm VILIS của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Thực hiện kế hoạch nhiệm vụ về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu TN&MT năm 2018 theo Quyết định số 37/2018/QĐ-UBND ngày 09 tháng 10 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác, chia sẻ và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (theo quy định của (Nghị định số 73/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2017 của Chính phủ về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường), Dữ liệu ranh thửa phường 15 được trích xuất từ CSDL địa chính (VILIS) nói trên và chuẩn hóa, đưa vào lưu trữ, quản lý và cung cấp các dịch vụ Web trực tuyến để phục vụ kịp thời nhu cầu của ngành TN&MT, các Sở ban ngành khác và các dự án liên quan trong việc triển khai Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành Thành phố Thông minh giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2025” của Thành phố và các dự án, công trình khác có liên quan. Các dịch vụ Web đều tuân thủ các tiêu chuẩn do Nhà nước quy định, chuẩn mở quốc tế như OGC WMS, OGC WFS, TMS, WMTS, KML, GeJson, GML, ... đáp ứng hệ tọa độ VN2000 Thành phố Hồ Chí Minh và WGS84 toàn cầu. Độ chính xác của dữ liệu ranh thửa phường 15 tương đương tỷ lệ 1/200 (92 mảnh),1/500 (5 mảnh) và 1/1000 (9 mảnh) tùy thuộc vào từng khu vực (Liên hệ với đơn vị chức năng để biết thêm chi tiết).

  • Dữ liệu ranh thửa đất Phường Phước Long A, Quận 9, TP. Hồ Chí Minh, được xây dựng năm 2014 trong công tác "Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai thành phố Hồ Chí Minh" theo Quyết định số 5946/QĐ-UBND ngày 29/12/2009, CSDL địa chính của công tác này được xây dựng từ các nguồn: hồ sơ dữ liệu đất đai từ trước 1975, hồ sơ đất đai theo quyết định 6280/QĐ-UB-QLĐT, kết quả tổng điều tra kê khai đăng ký nhà đất năm 1999, sổ điều tra điền dã - tổng kiểm kê đất đai 2010, hồ sơ GCNQSDĐ được cấp theo các quyết định 38/2002/QĐ-UB-ĐT, 04/2003/QĐ-UB, 90/2004/QĐ-UB và 54/2007/QĐ-UBND, bản đồ bằng khoán trước 1975, bản đồ giải thửa 299/TTg, bản đồ địa chính 02/CT-UB, sơ đồ nền và bản đồ địa chính chính quy. Cơ sở dữ liệu địa chính được lưu trữ dưới dạng ESRI GeoDatabase theo phần mềm VILIS của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Thực hiện kế hoạch nhiệm vụ về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu TN&MT năm 2018 theo Quyết định số 37/2018/QĐ-UBND ngày 09 tháng 10 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quy chế thu thập, quản lý, khai thác, chia sẻ và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (theo quy định của (Nghị định số 73/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2017 của Chính phủ về thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường), Dữ liệu ranh thửa phường Phước Long A được trích xuất từ CSDL địa chính (VILIS) nói trên và chuẩn hóa, đưa vào lưu trữ, quản lý và cung cấp các dịch vụ Web trực tuyến để phục vụ kịp thời nhu cầu của ngành TN&MT, các Sở ban ngành khác và các dự án liên quan trong việc triển khai Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành Thành phố Thông minh giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2025” của Thành phố và các dự án, công trình khác có liên quan. Các dịch vụ Web đều tuân thủ các tiêu chuẩn do Nhà nước quy định, chuẩn mở quốc tế như OGC WMS, OGC WFS, TMS, WMTS, KML, GeJson, GML, ... đáp ứng hệ tọa độ VN2000 Thành phố Hồ Chí Minh và WGS84 toàn cầu. Độ chính xác của dữ liệu ranh thửa phường Phước Long A tương đương tỷ lệ 1/200 (21 mảnh),1/500 (19 mảnh) và 1/1000 (6 mảnh) tùy thuộc vào từng khu vực (Liên hệ với đơn vị chức năng để biết thêm chi tiết).