From 1 - 10 / 225
  • Categories  

    This dataset is the definitive set of locality boundaries for the state of Victoria as defined by Local Government and registered by the Registrar of Geographic Names. The boundaries are aligned to Vicmap Property. This dataset is part of the Vicmap Admin dataset series.

  • Categories  

    During National Science Week on Sunday 26th August 2007, Geoscience Australia opened its doors to the community to showcase a diverse range of work activities. Members of the public had the opportunity to discover how earthquakes are detected, pan for gold, tour the building, view Australia in 3D, become a seafloor detective and talk to the people who work for Australia's national geoscience research organisation. The photographs of that open day have been converted into thumbmail images and are available on the GA web site.

  • Categories      

    Major hydrological basins and their sub-basins. This dataset divides the African continent according to its hydrological characteristics. The dataset consists of the following information:- numerical code and name of the major basin (MAJ_BAS and MAJ_NAME); - area of the major basin in square km (MAJ_AREA); - numerical code and name of the sub-basin (SUB_BAS and SUB_NAME); - area of the sub-basin in square km (SUB_AREA); - numerical code of the sub-basin towards which the sub-basin flows (TO_SUBBAS) (the codes -888 and -999 have been assigned respectively to internal sub-basins and to sub-basins draining into the sea)

  • Categories  

    This catalog is for registering all metadata records held by the Geofffrey's Tube Palace Hotel Ballroom.

  • Categories    

    Physiographic maps for the CIS and Baltic States (CIS_BS), Mongolia, China and Taiwan Province of China. Between the three regions (China, Mongolia, and CIS_BS countries) DCW boundaries were introduced. There are no DCW boundaries between Russian Federation and the rest of the new countries of the CIS_BS. The original physiographic map of China includes the Chinese border between India and China, which extends beyond the Indian border line, and the South China Sea islands (no physiographic information is present for islands in the South China Sea). The use of these country boundaries does not imply the expression of any opinion whatsoever on the part of FAO concerning the legal or constitutional states of any country, territory, or sea area, or concerning delimitation of frontiers. The Maps visualize the items LANDF, HYPSO, SLOPE that correspond to Landform, Hypsometry and Slope.

  • Hiện nay, các phương pháp phân tích sử dụng dữ liệu vector được sử dụng phổ biến trong các ứng dụng GIS về quy hoạch, quản lý đất đai, khoáng sản,...Trong đó, phần mềm URSCAPE cung cấp một số chức năn truy vấn, phân tích và trực quan hóa dữ liệu cũng như cho phép trao đổi dữ liệu với các hệ thống khác mà không đòi hỏi người dùng có kiến thức chuyên môn sâu về về các phần mềm chuyên ngành khác như Arcmap, Microstation,...Ưu điểm của URSCAPE là không yêu cầu máy tính có tốc độ cao, cấu hình quá mạnh để vận hành, dễ cài đặt và sử dụng, rất mạnh về phân tích và trực quan hóa dữ liệu, hỗ trợ ra quyết định một cách nhanh chóng. Ngày 7 tháng 12 năm 2021, Trung tâm Ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức "Hội thảo đào tạo sử dụng kết quả đề tài "Nghiên cứu, thử nghiệm ứng dụng URSCAPE để phục vụ hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu tài nguyên và môi trường". Nội dung buổi hội thảo tập trung vào các nội dung chính sau đây: - Nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng URSCAPE để hỗ trợ ra quyết định bằng phương pháp trực quan hóa và mô phỏng dựa trên dữ liệu kgông gian địa lý đã được chuẩn hóa, chuyển đổi để đưa vào ứng dụng này; - Xây dựng hệ thống tích hợp dữ liệu không gian đa nguồn gốc hỗ trợ ra quyết định quản lý đô thị trên cơ sở các phương pháp trực quan hóa, mô phỏng và phân tích địa lý; - Tham khảo ý kiến đánh giá của người dùng về ưu điểm và nhược điểm từ đó đề xuất hướng phát triển cho các công cụ của URSCAPE.

  • Categories      

    Chiều 30/11, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số chủ trì phiên họp thứ nhất của Ủy ban theo hình thức trực tuyến, kết nối với với điểm cầu các bộ, ngành, cơ quan, địa phương. Phát biểu ý kiến khai mạc phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, chuyển đổi số vừa là xu thế chung của thế giới, song cũng là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển đất nước. Phiên họp đầu tiên, ra mắt Ủy ban là bước triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về chuyển đổi số, với 3 trụ cột chính là Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số. Tại phiên họp, Ủy ban sẽ bàn, tiếp tục nâng cao nhận thức, thống nhất hành động; có kế hoạch, bước đi, phương pháp, nội dung để Ủy ban hoạt động một cách khoa học, hiệu quả, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Trước mắt là phục vụ phòng, chống dịch Covid-19; khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội; bảo đảm an ninh, quốc phòng; nâng cao vị thế, vai trò, tiềm lực của Việt Nam trên trường quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Tại phiên họp, Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng nêu rõ, Chính phủ cần có một chiến lược về dữ liệu để tạo ra nhiều dữ liệu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác dữ liệu này để tạo ra giá trị. Đồng thời với nó là nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Bộ Công an sẽ trình Chính phủ chiến lược và nghị định này trong năm 2021. Chuyển đổi số là sáng tạo, mà phải là sự sáng tạo của toàn dân. Việt Nam mạnh nhất là khi phát huy được sức mạnh toàn dân. Để phát huy được sức mạnh toàn dân thì cách tốt nhất là công bố các bài toán chuyển đổi số, cả ở tầm quốc gia, bộ ngành và tầm các địa phương, cũng như bài toán chuyển đổi số của các doanh nghiệp. Bộ xin nhận làm đầu mối để công bố các bài toán chuyển đổi số. Chuyển đổi số là cái mới. Bởi vậy mà chia sẻ về cái mới thành công là cách tốt nhất để lan tỏa và đi nhanh. Cái mới thành công của các địa phương, các bộ, ngành, các doanh nghiệp và của cả các quốc gia khác nữa. Và không chỉ chia sẻ thành công mà cả các dự án thất bại và các bài học thất bại nữa. Đề nghị Ủy ban Quốc gia cho ý kiến về một trang web quốc gia để chia sẻ các kinh nghiệm chuyển đổi số. Doanh nghiệp công nghệ số là trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo trong chuyển đổi số. Nhưng họ cần thị trường để nuôi sống họ. Họ cần được tiếp cận và tham gia vào các dự án chuyển đổi số, cả của Nhà nước và của các doanh nghiệp. Để thúc đẩy chuyển đổi số đi nhanh và đi đúng hướng thì một bộ chỉ số đo lường, đánh giá về chuyển đổi số là rất quan trọng. Chúng ta đã ban hành và tiến hành đánh giá, công bố lần đầu về chuyển đổi số chính quyền, bao gồm bộ, ngành và địa phương. Tiếp theo sẽ là bộ chỉ số đo lường về kinh tế số và xã hội số do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, cùng với Bộ chỉ số đánh giá về chuyển đổi số doanh nghiệp do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì sẽ được ban hành trong năm nay. Phải lấy người dân là trung tâm, động lực cho phát triển chuyển đổi số Phát biểu ý kiến kết luận phiên họp, đề cập nhiệm vụ thời gian tới, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh cần thống nhất quan điểm chuyển đổi số là một xu thế của thế giới, một yêu cầu đòi hỏi khách quan của sự phát triển, không thể không làm, không thể đứng ngoài cuộc. Chuyển đổi số có tính chất toàn cầu, phải có cách tiếp cận toàn cầu. Chuyển đổi số tác động các cơ quan đơn vị địa phương, do đó phải bắt tay vào làm, tạo ra hệ thống tổng thể, liên thông. Các bộ ngành trong hệ thống chính trị phải làm, liên thông từ trung ương đến cơ sở. Chuyển đổi số tác động mọi người dân, do đó phải lấy người dân là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực cho phát triển chuyển đổi số. Mọi chính sách đều hướng về người dân và doanh nghiệp. Mọi người dân đều phải tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Phải có tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược, hợp lý, bám sát thực tiễn khách quan, điều kiện hoàn cảnh, xây dựng chương trình, kế hoạch, làm việc có trọng tâm, trọng điểm, có sức lan tỏa rộng, mang lại lợi ích cho nhiều người, doanh nghiệp. Phải đầu tư thích đáng cho hoàn thiện thể chế, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; cho quản trị khoa học, hợp lý, hiệu quả. Thúc đẩy hợp tác công tư trong chuyển đổi số vì nguồn lực nhà nước có hạn. Đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, kích hoạt mọi nguồn lực trong xã hội. Nâng cao nhận thức, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải cao, nỗ lực phải lớn, hành động quyết liệt, làm việc nào dứt điểm việc đó, thiết thực, hiệu quả, khoa học, không để dàn trải. Tăng cường giám sát, kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm trong công tác này. Tăng cường công tác truyền thông đến với mọi người, nhất là người dân, doanh nghiệp, tạo sự đồng thuận, hưởng ứng, vào cuộc cùng các cấp chính quyền, giải quyết tốt mối quan hệ Nhà nước, thị trường, xã hội. Phát triển hài hòa hợp lý gắn kết giữa công nghệ và cải cách hành chính; phát triển phải có kế thừa, đổi mới, sáng tạo. Về các công việc cụ thể, Thủ tướng nêu rõ, phải nâng cao nhận thức tầm quan trọng của công việc này ở các cấp, các ngành, đặc biệt người đứng đầu. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho chuyển đổi số. Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo. Tiếp tục hoàn thiện các cơ sở dữ liệu hiện đang là điểm yếu. Triển khai chương trình phát triển công dân số bởi chính quyền số không có công dân số thì cũng vô dụng. Khi xây dựng Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số thì phải có công dân số tương ứng, hài hòa các trụ cột này mà chúng ta phải đầu tư. Tích cực hợp tác giữa các địa phương, quốc tế. Các bộ ngành phải chia sẻ dữ liệu; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; tránh tình trạng thành tích, cục bộ. Về kế hoạch chuyển đổi số quốc gia năm 2022, Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, địa phương phải quyết tâm thực hiện tạo đột phá, xuất phát từ thống nhất nhận thức, quan điểm chỉ đạo, phải bố trí nguồn lực hợp lý. Bộ Thông tin và Truyền thông sớm hoàn thiện kế hoạch hoạt động của Ủy ban năm 2022 cụ thể, chi tiết; có kiểm điểm, đánh giá kết quả. Việc đôn đốc, kiểm tra, giám sát thực hiện các chương trình, kế hoạch phải được coi trọng hơn ở các cấp, các ngành. Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành làm tốt các nhiệm vụ, theo đó, Bộ Công an tập trung xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định về định danh và xác thực điện tử và Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân; trình cấp có thẩm quyền ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong quý IV/2022. Cùng với Văn phòng Chính phủ phối hợp với các Bộ: Thông tin và Truyền thông, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng Đề án đẩy mạnh ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và chuyển đổi số quốc gia, hoàn thành và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để tổ chức triển khai thực hiện trong tháng 12/2021... Bộ Thông tin và Truyền thông thúc đẩy phát triển hạ tầng số, bảo đảm an toàn thông tin, kết nối, chia sẻ dữ liệu trong chuyển đổi số quốc gia. Văn phòng Chính phủ tập trung xây dựng, phát triển hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở phát triển Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ kết nối với các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin báo cáo của bộ, ngành, địa phương; xây dựng và phát triển các công cụ phân tích dữ liệu, dự báo hỗ trợ chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu số. Bộ Tài chính thúc đẩy việc sử dụng hóa đơn điện tử, gắn với phát triển kinh tế số, phổ cập chữ ký số. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đẩy mạnh chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa để thúc đẩy phát triển kinh tế số; theo dõi vấn đề đầu tư công. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có giải pháp đột phá để phổ cập thanh toán số, thanh toán không dùng tiền mặt theo hướng thuận tiện, dễ dàng và an toàn hơn, giúp các hoạt động kinh tế minh bạch hơn, hạn chế gian lận, tiêu cực trong thanh toán, tạo nền móng phát triển giao dịch trực tuyến và kinh tế số. Bộ Nội vụ thúc đẩy gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính và chuyển đổi số, Chính phủ số. Hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, để quản lý đồng bộ, thống nhất, minh bạch, kịp thời tạo nguồn dữ liệu cốt lõi cho phát triển Chính phủ số. Bộ Xây dựng chủ trì nghiên cứu, xây dựng quy hoạch phát triển đô thị thông minh theo Đề án 950 về phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam; tăng cường quản lý về quy hoạch, kiến trúc. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp Bộ Thông tin và Truyền thông thúc đẩy ứng dụng Hồ sơ sức khỏe điện tử hiệu quả. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thúc đẩy chuyển đổi số cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân. Bộ Tài nguyên và Môi trường có cơ sở dữ liệu quản lý đất đai, môi trường, cảnh báo thiên tai, sạt lở đất. Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung hoàn thiện tiêu chí, tiêu chuẩn, quy trình về ngành giáo dục, đào tạo số với định hướng, chiến lược có tầm nhìn…

  • Theo Báo cáo tiến độ 5 năm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, dự kiến đến năm 2030, Việt Nam có khả năng sẽ đạt được cả 3 mục tiêu cụ thể thuộc mục tiêu phát triển bền vững số 13 về các hành động bảo vệ khí hậu. Thực tế trong 5 năm qua, Việt Nam đã nỗ lực triển khai các hoạt động từ hoàn thiện thể chế chính sách đến tăng cường năng dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát khí hậu và các hoạt động cụ thể để thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với BĐKH. Việt Nam cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng vào năm 2016 và năm 2020, cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) vào năm 2020. Đến nay đã có 52/63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu; 7/18 Bộ và 37/63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương ban hành Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh. Bên cạnh nguồn lực trong nước, Việt Nam đã huy động được nhiều nguồn lực quốc tế cho các dự án, chương trình liên quan đến biến đổi khí hậu. Trong đó, giai đoạn 2017-2019 đã huy động được 146,5 triệu đô la Mỹ từ Quỹ Khí hậu xanh (GCF). Việt Nam đã tổ chức phổ biến Luật Phòng chống thiên tai và các văn bản dưới luật cho 44 lớp với 1320 cán bộ cấp xã được tập huấn. Mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn được chú ý đầu tư gồm 187 trạm khí tượng bề mặt - 242 trạm thủy văn - 20 trạm hải văn - 10 trạm radar thời tiết - 6 trạm thám không vô tuyến - 8 trạm pilot - 782 trạm đo mưa độc lập. Tuy nhiên, trước diễn biến và tác động của biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, đòi hỏi các Bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục tập trung rà soát, hoàn thiện các văn bản chính sách pháp luật liên quan đến BĐKH đảm bảo phù hợp với yêu cầu thực tiễn về công tác ứng phó với BĐKH. Bên cạnh đó để giám sát khí hậu, cần đầu tư hệ thống quan trắc, hệ thống dự báo khí tượng thủy văn đáp ứng được nhu cầu dự báo, đặc biệt là công nghệ dự báo cực ngắn và dự báo biển. Huy động nguồn lực xã hội để đầu tư cho các hệ thống trên. Hai hoạt động cần thực hiện thường xuyên, liên tục để duy trì các kết quả là tăng cường nâng cao nhận thức về ứng phó với BĐKH cho các cấp, các ngành và người dân, đặc biệt cần chú trọng công tác này hơn nữa tại địa phương; Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm huy động nguồn tài trợ và tăng cường sự phối hợp thực hiện Kế hoạch triển khai Thỏa thuận Paris, các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ về khí tượng thủy văn và BĐKH.

  • Categories      

    Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ vừa nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ xây dựng quy định về chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ”. Đây là đề tài nghiên cứu quan trọng góp phần xây dựng hệ thống văn bản pháp lý đủ mạnh quản lý hoạt động chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc bản đồ còn rất mới mẻ tại Việt Nam. Theo TS. Đồng Thị Bích Phương, Chủ nhiệm đề tài, đề tài đã khảo sát, đánh giá các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển và các nước có điều kiện tương tự Việt Nam về chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc bản đồ và thông tin địa lý; phân tích, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ; khảo sát thực tế chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ và điều tra nhu cầu người dùng. Sau khi triển khai nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã xác định các giải pháp tổ chức, tài chính, kỹ thuật và sở hữu trí tuệ để đảm bảo chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đồng thời, xây dựng Dự thảo quy định về chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ. Theo đó, các giải pháp mà nhóm nghiên cứu đưa ra quản lý hoạt động chia sẻ dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ phù hợp với điều kiện hiện tại, đó là: Xây dựng Hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia bao gồm chính sách, thể chế, tiêu chuẩn, công nghệ, dữ liệu và nguồn lực để đảm bảo chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu không gian địa lý nói chung và dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ nói riêng. Bên cạnh đó, Nhà nước đầu tư cho thu nhận, cập nhật, quản lý, cung cấp, chia sẻ dữ liệu, sản phẩm đo đạc cơ bản và chuyên ngành trên nguyên tắc hiệu quả, tránh lãng phí, đủ đáp ứng các nhu cầu phát triển. Đặc biệt, thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ phải được thu nhận, cập nhật, cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời; được quản lý đảm bảo sử dụng lâu dài và khai thác, chia sẻ thuận tiện. Viện trưởng Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ Nguyễn Phi Sơn đánh giá: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở phục vụ xây dựng Nghị định và các quy định về chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ khoa học, phù hợp với thực tế để đáp ứng các yêu cầu quản lý Nhà nước, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động đo đạc và bản đồ. Theo ông Nguyễn Phi Sơn, hoạt động đo đạc và bản đồ đang được thực hiện ở rất nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau như: quy hoạch lãnh thổ, giao thông, xây dựng, thủy lợi, công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý đất đai, giáo dục đào tạo, địa chất, bảo vệ môi trường, du lịch, truyền thông, an ninh quốc phòng... Vì vậy, các quy định về chia sẻ, sử dụng chung dữ liệu đo đạc và bản đồ khoa học, phù hợp với thực tế để đáp ứng các yêu cầu quản lý Nhà nước sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động đo đạc và bản đồ của các ngành, các lĩnh vực liên quan góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu an ninh quốc phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

  • Categories      

    Ngày 5/12/2021, Bộ Tài chính cho biết vừa hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản. Trên cơ sở quan điểm mức phí bảo vệ môi trường phải căn cứ vào khối lượng chất thải ra môi trường và mức độ ô nhiễm trong quá trình khai thác khoáng sản gây ra, Bộ Tài chính cho rằng, các quy định hiện hành phát sinh một số vấn đề cần hoàn thiện. Mục đích chính là từng bước hạn chế tác động xấu đến môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản. Hiện nay, quy định khung mức phí đối với sỏi, cuội, sạn, cát, đất sét, đá… là từ 1.500 - 1.600 đồng/m3. Theo Bộ Tài chính, mức phí này còn thấp, chưa khuyến khích sử dụng vật liệu khác thay thế. Do vậy, đơn vị này đề xuất trình Chính phủ điều chỉnh tăng khung mức phí đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường. Mức phí tối thiểu bằng mức phí tối đa hiện hành và mức phí tối đa bằng 200% mức phí hiện hành. Cụ thể, mức phí từ 2.000 -12.000 đồng/m3, tùy loại khoáng sản trong khi mức hiện hành là từ 1.000 – 6.000 đồng/m3. Bên cạnh đó, để khuyến khích tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản sử dụng đất đá bốc xúc thải ra để cải tạo, phục hồi môi trường, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định miễn thu phí đối với việc sử dụng đất đá bốc xúc để cải tạo, phục hồi môi trường. Đồng thời, miễn thu phí với tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trong diện tích đất ở thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để xây dựng các công trình của hộ gia đình, cá nhân trong diện tích đó. Tổ chức, cá nhân khai thác đất đá để san lấp, xây dựng công trình an ninh, quân sự, phòng chống thiên tai, khắc phục thiên tai. Theo thống kê, số thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách. Số thu phí năm 2017 là 3.029 tỉ đồng; năm 2018 là 3.448 tỉ đồng; năm 2019 là 3.737 tỉ đồng; năm 2020 là 3.576 tỉ đồng.